Tại đây, bệnh nhân được chăm sóc tận tình và điều trị bằng những phương pháp tiên tiến nhất, đảm bảo sức khỏe và sự an tâm cho mọi người.
NỖ LỰC BỨT PHÁ, NÂNG TẦM KHU VỰC VÀ PHÁT TRIỂN
Bệnh viện Quân y 120 không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, làm chủ kỹ thuật y khoa tiên tiến, ứng dụng công nghệ hiện đại, hướng tới sự hài lòng của người bệnh và vì sức khỏe cộng đồng.
Chất lượng chuyên môn là ưu tiên hàng đầu, người bệnh là trung tâm, y đức là giá trị cốt lõi.
Hệ thống máy móc tiên tiến, đồng bộ, đáp ứng các kỹ thuật chuyên sâu.
Nhiều kỹ thuật chuyên sâu được làm chủ, mang lại hiệu quả điều trị vượt trội.
Kết nối chuyên gia tuyến trung ương, nâng cao hiệu quả điều trị và cứu chữa.
Ứng dụng bệnh án điện tử, quản trị thông minh, nâng cao trải nghiệm người bệnh.
TIỀN THÂN
Tiền thân của Bệnh viện Quân y 120 là Đội Phẫu thuật thuộc Tiểu đoàn 261, ra đời năm 1962. Theo yêu cầu chiến trường, đến năm 1964, Quân khu phát triển thêm các đội điều trị, hình thành các Bệnh xá X11, X12, X13 phục vụ ba tiểu đoàn của Trung đoàn Đồng Tháp I. Những năm 1967-1968, chiến trường ngày càng ác liệt, mạng lưới quân y mở rộng với nhiều phân hiệu từ vùng Đồng Tháp Mười đến biên giới Campuchia, từ Cái Bè, Cai Lậy đến Bến Tre.
Tiền thân của Bệnh viện Quân y 120 là Đội Phẫu thuật thuộc Tiểu đoàn 261, ra đời năm 1962. Theo yêu cầu chiến trường, đến năm 1964, Quân khu phát triển thêm các đội điều trị, hình thành các Bệnh xá X11, X12, X13 phục vụ ba tiểu đoàn của Trung đoàn Đồng Tháp I. Những năm 1967-1968, chiến trường ngày càng ác liệt, mạng lưới quân y mở rộng với nhiều phân hiệu từ vùng Đồng Tháp Mười đến biên giới Campuchia, từ Cái Bè, Cai Lậy đến Bến Tre.
Đến tháng 8/1973, các đơn vị điều trị dọc biên giới được hợp nhất thành Bệnh viện K20 với quy mô 600 giường, đóng tại Bến Cầu – Tây Ninh, trở thành bệnh viện lớn nhất Quân khu trong kháng chiến chống Mỹ. Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quân khu 8 sáp nhập với Quân khu 9. Cùng ngày lịch sử đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định hợp nhất Bệnh viện 12 và Bệnh viện K20 thành Viện Quân y 120, đặt tại phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp).
Trong suốt những năm kháng chiến, hàng chục thầy thuốc đã anh dũng hy sinh. Thống kê từ năm 1968 đến 1975 ghi nhận 67 đồng chí hi sinh, trong đó có bác sĩ, y sĩ, y tá, dược sĩ và cứu thương – những người đã “nhường cơm, sẻ áo, bắt cá, hái rau” chăm sóc thương binh như người thân ruột thịt.
Đến tháng 8/1973, các đơn vị điều trị dọc biên giới được hợp nhất thành Bệnh viện K20 với quy mô 600 giường, đóng tại Bến Cầu – Tây Ninh, trở thành bệnh viện lớn nhất Quân khu trong kháng chiến chống Mỹ. Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quân khu 8 sáp nhập với Quân khu 9. Cùng ngày lịch sử đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định hợp nhất Bệnh viện 12 và Bệnh viện K20 thành Viện Quân y 120, đặt tại phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp).
Đến tháng 8/1973, các đơn vị điều trị dọc biên giới được hợp nhất thành Bệnh viện K20 với quy mô 600 giường, đóng tại Bến Cầu – Tây Ninh, trở thành bệnh viện lớn nhất Quân khu trong kháng chiến chống Mỹ. Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quân khu 8 sáp nhập với Quân khu 9. Cùng ngày lịch sử đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định hợp nhất Bệnh viện 12 và Bệnh viện K20 thành Viện Quân y 120, đặt tại phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp).
1977-1990
Bệnh viện bước vào thời bình trong bối cảnh cả nước còn đang khắc phục hậu quả chiến tranh. Biên chế ban đầu chỉ 140 cán bộ, nhân viên; doanh trại tiếp quản từ chế độ cũ xuống cấp, trang thiết bị thiếu thốn, lạc hậu. Thế nhưng không kịp nghỉ ngơi, ngay từ năm 1977-1978, Bệnh viện đã phải căng mình phục vụ thương bệnh binh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam.
Bệnh viện bước vào thời bình trong bối cảnh cả nước còn đang khắc phục hậu quả chiến tranh. Biên chế ban đầu chỉ 140 cán bộ, nhân viên; doanh trại tiếp quản từ chế độ cũ xuống cấp, trang thiết bị thiếu thốn, lạc hậu. Thế nhưng không kịp nghỉ ngơi, ngay từ năm 1977-1978, Bệnh viện đã phải căng mình phục vụ thương bệnh binh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam.
Giai đoạn 1979-1989 là thử thách lớn nhất trong lịch sử bệnh viện thời bình. Hai đội điều trị cùng phương tiện kỹ thuật ưu tiên bám theo các sư đoàn chủ lực làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia, mang theo túi thuốc và khẩu súng lặn lội qua từng phum sóc cứu đói, cứu đau. Trong khi đó, tại hậu cứ, số lượng thương bệnh binh chuyển về tăng gấp 4-5 lần công suất quy định, có lúc vượt hơn 1.000 giường. Các kíp phẫu thuật thay nhau trực suốt ngày đêm; những ca sọ não, cột sống, liệt chi, cụt tay, cụt chân, sốt rét suy kiệt chiếm tỷ lệ cao. Toàn thể cán bộ, nhân viên vượt qua mọi thiếu thốn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Giai đoạn 1979-1989 là thử thách lớn nhất trong lịch sử bệnh viện thời bình. Hai đội điều trị cùng phương tiện kỹ thuật ưu tiên bám theo các sư đoàn chủ lực làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia, mang theo túi thuốc và khẩu súng lặn lội qua từng phum sóc cứu đói, cứu đau. Trong khi đó, tại hậu cứ, số lượng thương bệnh binh chuyển về tăng gấp 4-5 lần công suất quy định, có lúc vượt hơn 1.000 giường. Các kíp phẫu thuật thay nhau trực suốt ngày đêm; những ca sọ não, cột sống, liệt chi, cụt tay, cụt chân, sốt rét suy kiệt chiếm tỷ lệ cao. Toàn thể cán bộ, nhân viên vượt qua mọi thiếu thốn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
1990-2010
Năm 1989, quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trở về. Bệnh viện tiếp nhận thêm Đội điều trị 6 và bổ sung nhân lực từ Bệnh viện 122 Tiền phương, bắt đầu giai đoạn tập trung củng cố tổ chức và nâng cao chất lượng chuyên môn.
Đây là giai đoạn bệnh viện chuyển mình căn bản: đầu tư nâng cấp doanh trại, mua sắm trang thiết bị y tế, tích cực đưa cán bộ đi đào tạo sau đại học. Bệnh viện mở rộng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trên địa bàn, tiếp nhận điều trị cho nhân dân các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre. Nhiều kỹ thuật mới trong ngoại khoa, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm được triển khai; hai khoa điều trị bệnh lao và tâm thần kinh trở thành tuyến cuối của Quân khu 9. Tinh thần “Tất cả vì người bệnh” được quán triệt sâu rộng, uy tín bệnh viện ngày càng được củng cố trong lòng quân và dân khu vực sông Tiền.
Năm 1989, quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trở về. Bệnh viện tiếp nhận thêm Đội điều trị 6 và bổ sung nhân lực từ Bệnh viện 122 Tiền phương, bắt đầu giai đoạn tập trung củng cố tổ chức và nâng cao chất lượng chuyên môn.
Đây là giai đoạn bệnh viện chuyển mình căn bản: đầu tư nâng cấp doanh trại, mua sắm trang thiết bị y tế, tích cực đưa cán bộ đi đào tạo sau đại học. Bệnh viện mở rộng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trên địa bàn, tiếp nhận điều trị cho nhân dân các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre. Nhiều kỹ thuật mới trong ngoại khoa, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm được triển khai; hai khoa điều trị bệnh lao và tâm thần kinh trở thành tuyến cuối của Quân khu 9. Tinh thần “Tất cả vì người bệnh” được quán triệt sâu rộng, uy tín bệnh viện ngày càng được củng cố trong lòng quân và dân khu vực sông Tiền.
Đến tháng 8/1973, các đơn vị điều trị dọc biên giới được hợp nhất thành Bệnh viện K20 với quy mô 600 giường, đóng tại Bến Cầu – Tây Ninh, trở thành bệnh viện lớn nhất Quân khu trong kháng chiến chống Mỹ. Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quân khu 8 sáp nhập với Quân khu 9. Cùng ngày lịch sử đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định hợp nhất Bệnh viện 12 và Bệnh viện K20 thành Viện Quân y 120, đặt tại phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp).
Đến tháng 8/1973, các đơn vị điều trị dọc biên giới được hợp nhất thành Bệnh viện K20 với quy mô 600 giường, đóng tại Bến Cầu – Tây Ninh, trở thành bệnh viện lớn nhất Quân khu trong kháng chiến chống Mỹ. Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quân khu 8 sáp nhập với Quân khu 9. Cùng ngày lịch sử đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định hợp nhất Bệnh viện 12 và Bệnh viện K20 thành Viện Quân y 120, đặt tại phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp).
2010 - 2025
Đây là giai đoạn khẳng định uy tín, vị thế của Bệnh viện đối với quân và dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Bệnh viện đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng khang trang, sạch đẹp; trang bị các trang thiết bị y tế hiện đại (MRI 1.5 Tesla, hệ thống chụp cắt lớp vi tính 32 lát cắt/vòng quay, HDF-online, hệ thống máy xét nghiệm…); đào tạo nguồn nhân lực y, bác sĩ có trình độ chuyên môn ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Đây là giai đoạn khẳng định uy tín, vị thế của Bệnh viện đối với quân và dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Bệnh viện đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng khang trang, sạch đẹp; trang bị các trang thiết bị y tế hiện đại (MRI 1.5 Tesla, hệ thống chụp cắt lớp vi tính 32 lát cắt/vòng quay, HDF-online, hệ thống máy xét nghiệm…); đào tạo nguồn nhân lực y, bác sĩ có trình độ chuyên môn ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Trình độ đội ngũ cán bộ tăng vượt bậc: từ 40% có bằng cao đẳng trở lên năm 2020, đến năm 2025 đạt gần 85%; 17 bác sĩ được phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”. Bên cạnh đó, với phương châm “Sự hài lòng của bệnh nhân là thước đo chất lượng”, Bệnh viện tích cực cải tiến quy trình khám bệnh theo hướng rút ngắn thời gian thăm khám và điều trị. Trong giai đoạn này, Bệnh viện triển khai hơn 4.000 kỹ thuật mới, trong đó có nhiều kỹ thuật chuyên sâu của các bệnh viện tuyến cuối và Trung ương như Ngoại thần kinh, Mắt, Chấn thương chỉnh hình, thay khớp háng, khớp gối nhân tạo và lọc máu HDF-online. Nhiều năm liền, Bệnh viện được Cục Quân y đánh giá là một trong bốn bệnh viện dẫn đầu toàn quân về số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị.
Đặc biệt trong năm 2021, khi đại dịch COVID-19 bùng phát, với vai trò là lực lượng chủ chốt của Bệnh viện Truyền nhiễm dã chiến số 6, Bệnh viện đã hoàn thành tốt công tác khám, cấp cứu và điều trị bệnh nhân mắc COVID-19.
Bên cạnh đó, Bệnh viện đã tổ chức nhiều đoàn y, bác sĩ tham gia phòng, chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, được cấp ủy, chính quyền địa phương, quân và dân đánh giá cao, để lại hình ảnh đẹp của người thầy thuốc quân y nơi tuyến đầu chống dịch.
Đặc biệt trong năm 2021, khi đại dịch COVID-19 bùng phát, với vai trò là lực lượng chủ chốt của Bệnh viện Truyền nhiễm dã chiến số 6, Bệnh viện đã hoàn thành tốt công tác khám, cấp cứu và điều trị bệnh nhân mắc COVID-19.
Bên cạnh đó, Bệnh viện đã tổ chức nhiều đoàn y, bác sĩ tham gia phòng, chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, được cấp ủy, chính quyền địa phương, quân và dân đánh giá cao, để lại hình ảnh đẹp của người thầy thuốc quân y nơi tuyến đầu chống dịch.
Với những đóng góp nổi bật trong công tác phòng, chống dịch COVID-19, Bệnh viện được tặng thưởng thêm 01 Huân chương Lao động hạng Ba cùng nhiều cờ thi đua của Bộ Quốc phòng, Quân khu và bằng khen của UBND các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là dấu mốc khẳng định năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và truyền thống vẻ vang của Bệnh viện trong thời kỳ mới.