Suy tĩnh mạch ngoại biên
BBSCK1 Vũ Tiến Vũ
Suy tĩnh mạch mạn tính hiện nay là bệnh khá phổ biến. Tại Hoa Kỳ, thống kê cho thấy có 10 – 30% người lớn mắc bệnh. Ở Việt Nam 6/10 bệnh nhân tại phòng khám có biểu hiện bệnh này. Đa phần bệnh nhân không biết về bệnh, nên khi bệnh nặng mới đến cơ sở y tế.

BSCK1 Vũ Tiến Vũ – Q. Chủ nhiệm Khoa Chăm sóc & điều trị theo yêu cầu – Bệnh viện quân y 120 tư vấn cho bệnh nhân tại phòng khám
Các triệu chứng sớm thường gặp:
– Phù hai chi dưới, kèm cảm giác nặng chân. – Đau mỏi chân. – Chuột rút về đêm.
Các triệu chứng nặng:
– Mảng rối loạn dinh dưỡng trên da. – Các tĩnh mạch nông giãn nổi ngoằn nghoèo. – Có các đợt viêm tắc tĩnh mạch, sốt, nhiễm trùng. – Chảy máu vết loét, loét dinh dưỡng.
Biến chứng gây tử vong:
Cục máu đông hình thành trong lòng tĩnh mạch, tách rời thành mạch đi về tim, gây thuyên tắc phổi và đưa đến tử vong.

Hình ảnh các giai đoạn tiến triển và biến chứng bệnh suy tĩnh mạch
Nguyên nhân của suy giãn tĩnh mạch:
Chưa được xác định rõ ràng, tuy nhiên có thể kể đến nguyên nhân chính là do tình trạng tổn thương các van tĩnh mạch ngoại biên dẫn đến ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch gây giãn tĩnh mạch kết hợp với quá trình viêm mạn tính tạo thành vòng xoắn bệnh lí.

Sơ đồ van tĩnh mạch
Các yếu tố nguy cơ:
- Di truyền và chủng tộc: có yếu tố di truyền. Nữ bị nhiều hơn nam: do tác động của nội tiết tố. Da trắng và da vàng bị nhiều hơn da đen.
- Môi trường sống: đời sống kinh tế thấp, sống và làm việc trong môi trường ẩm thấp, nóng. Một số nghề đặc biệt phải đứng nhiều, ngồi nhiều (giáo viên, phẫu thuật viên, thợ hớt tóc, nhân viên văn phòng, công nhân các dây chuyền sản xuất…)
- Chế độ dinh dưỡng: ăn kiêng, nhiều chất bột, ít chất xơ.
- Béo phì: làm gia tăng lực cản đối với dòng máu trở về tim, giảm khả năng hút máu về do giảm hoạt động của cơ hoành.
- Nội tiết tố: sử dụng thuốc ngừa thai, có thai, các rối loạn về nội tiết.
- Nằm bất động lâu: sau phẫu thuật thay khớp, phẫu thuật vùng chậu, bó bột gãy xương chi dưới, đột quỵ não…
Điều trị:
- Không xâm lấn: Băng ép bằng băng thun hoặc dùng vớ tĩnh mạch nhằm phục hồi sự chênh lệch về áp suất giữa hệ thống tĩnh mạch nông và sâu qua hệ tĩnh mạch xuyên; giảm đường kính của tĩnh mạch để tăng khả năng lưu thông của dòng máu.
- Nội khoa: Chỉ áp dụng trong giai đoạn đầu của bệnh. Dùng các loại thuốc làm bền thành mạch, chống viêm như Daflon, Cyclo 3, Rutine C…
- Ngoại khoa: Áp dụng vào giai đoạn muộn: phẫu thuật Stripping; phẫu thuật Chivas; tiêm xơ; gây tắc tĩnh mạch bằng can thiệp nội mạch ít xâm lấn, ít đau, nhanh hồi phục với nguồn năng lượng Laser.
Bệnh suy tĩnh mạch không gây chết người nhưng làm giảm chất lượng cuộc sống và lao động. Với mục đích chặn đứng sự trào ngược, làm bền thành tĩnh mạch, hãy thực hiện những lời khuyên sau:

Hiện nay, Bệnh viện quân y 120 đã triển khai chẩn đoán bệnh suy tĩnh mạch mạn tính bằng máy siêu âm Doppler màu mạch máu là kỹ thuật cho kết quả chẩn đoán chính xác hệ thống tĩnh mạch và đánh giá khả năng can thiệp. Đồng thời đưa vào ứng dụng nhiều phương pháp điều trị bệnh suy tĩnh mạch như phẫu thuật Stripping – bóc và lấy đi toàn bộ tĩnh mạch bị giãn; phẫu thuật Chivas – lấy tại chỗ các tĩnh mạch dãn; làm đông tắc tĩnh mạch nhỏ bằng tiêm xơ; hay gây tắc tĩnh mạch lớn bằng can thiệp nội mạch với các nguồn phát Laser, sóng cao tần (RFA).
BSCK1 Vũ Tiến Vũ
Một số hình ảnh điều trị bệnh suy tĩnh mạch biên tại bệnh viện quân y 120

BS Phạm Văn Hoàng – Khoa Chẩn đoán Hình ảnh – Bệnh viện quân y 120 siêu âm Doppler màu tĩnh mạch

Hình ảnh siêu âm Doppler màu tĩnh mạch

BSCK1 Vũ Tiến Vũ – và kíp phẫu thuật điều trị suy dãn tĩnh mạch bằng laser

Máy phẫu thuật điều trị suy dãn tĩnh mạch bằng laser
BS CK1 Vũ Tiến Vũ Đăng ngày 27/3/2019